KỸ NĂNG THAM GIA GIAO THÔNG AN TOÀN
Bộ 30 đề - Dàn ý Tập làm văn 8 kì 2 – Phần viết – KNTT 8

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đề Thi
Ngày gửi: 19h:38' 15-03-2024
Dung lượng: 67.2 KB
Số lượt tải: 270
Nguồn:
Người gửi: Đề Thi
Ngày gửi: 19h:38' 15-03-2024
Dung lượng: 67.2 KB
Số lượt tải: 270
Số lượt thích:
0 người
BỘ ĐỀ - DÀN Ý CHI TIẾT - BÀI LÀM TẬP LÀM VĂN PHẦN VIẾT
Sách KẾT NỐI TRI THỨC LỚP 8 KÌ 2
BÀI 6: CHÂN DUNG CUỘC SỐNG
VIẾT: VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
(TRUYỆN)
ĐỀ SỐ 1: Phân tích truyện ngắn Bầy chim chìa vôi
DÀN Ý CHI TIẾT
MỞ BÀI:
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, sáng tác:
+ Tác giả Nguyễn Quang Thiều (13/02/1957) là một nhà thơ, nhà văn, là cây
bút đa năng và sung sức, xuất hiện thường xuyên trên văn đàn, báo chí.
+ Có nhiều sáng tác hay cho thiếu nhi với lối viết chân thực, gần gũi với cuộc
sống đời thường
- Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm:
+ Tác phẩm Bầy chim chìa vôi được trích trong tập “Mùa hoa cải bên sông”.
Tác phẩm là một câu chuyện đẹp về tình yêu, sự gắn bó giữa con người với
thiên nhiên.
+ Qua câu chuyện, chúng ta thấy được tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương của
những đứa trẻ đối với bầy chim chìa vôi nhỏ bé nhưng kiên cường, dũng cảm
THÂN BÀI:
1. Nội dung chính của truyện.
- Cuộc nói chuyện và suy nghĩ đầy lo lắng của hai anh em Mên và Mon về tổ
chim chìa vôi có thể bị nước sông nhấn chìm lúc 2 giờ sáng khi tỉnh giấc.
- Hai anh em quyết định đi tới sông ngay trong đêm mưa để cứu bầy chim chìa
vôi.
- Tận mắt nhìn thấy những chú chim non bay lên từ bãi cát giữa sông vào lúc
bình minh, trong lòng hai anh em trào lên sự vui vẻ, cảm động khó tả.
2. Nêu chủ đề của truyện.
- Chủ đề viết về tuổi thơ và thiên nhiên (truyện về hai đứa trẻ và bầy chim chìa
vôi bên bãi sông gắn bó với quê hương) tác phẩm thể hiện được vẻ đẹp của
tâm hồn trẻ thơ nhạy cảm, trong sáng, tràn đầy tình yêu thương vạn vật xung
quanh.
- Khắc hoạ những cậu bé dũng cảm, dám hành động, biết quan tâm, yêu
thương những gì diễn ra xung quanh mình.
- Câu chuyện mà nhà văn mang đến nhận được nhiều sự chú ý của độc giả
trong cách khai thác đề tài, chủ đề gần gũi cuộc sống nhưng chứa đựng ý
nghĩa, giá trị nhân sinh sâu sắc.
3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
a. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Thế giới tuổi thơ với việc xây dựng nhân vật hai anh em Mên và Mon đầy
nghệ thuật. Miêu tả tâm lí tinh tế, ngôn ngữ đối thoại sinh động; đặt nhân vật
vào tình huống mang tính thử thách để bộc lộ tính cách.
- Người đọc theo dõi hành trình câu chuyện từ hai giờ sáng đến bình minh
thức dậy bằng cách nói chuyện lo lắng, quan tâm dành cho những chú chim
chìa vôi non ở đầu câu chuyện, đến hành động ra sống để cứu bầy chim rồi
khó trong sự sung sướng bất ngờ ở cuối truyện ...
- Qua những cử chỉ, hành động và lời nói của các nhân vật thế giới tình yêu
thương, sự vô tư, hồn nhiên, trong sáng qua ngòi bút tài hoa của nhà văn đã
thể hiện.
* Nhân vật Mon:
- Mon là em nhưng Mon có những suy nghĩ, lo lắng xuất phát từ trái tim tốt
bụng, biết quan sát, lanh lợi và rất đáng yêu.
- Không thể ngủ vì lo cho sự sống những chú chim nhỏ có thể bị dòng nước
cuốn trôi, liên tục đặt ra những câu hỏi với chi tiết lặp lại: “anh bảo…” đi kèm
với việc: mưa to không, nước sông lên có to không, bãi cát giữa sông đã ngập
chưa, những con chìa vôi…
- Luôn suy nghĩ của em vẫn hướng tới bầy chim chìa vôi trên sông, em rất lo
cho tổ chim chìa vôi. “Những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất”; đề
xuất với anh Mên: “Hay mình mang chúng nó vào bờ?” và dần thành một câu
khẳng định, quả quyết: “Mình phải đem chúng nó vào bờ, anh ạ”. Quyết định
đi cứu những chú chim non không phải đến từ anh Mên mà lại chính là Mon
càng thể hiện sự dũng cảm, nhân hậu và lòng quyết tâm của Mon.
* Nhân vật Mên:
- Người anh trai khá yên tĩnh, có phần cục cằn và hay gắt gỏng, nhưng biết suy
nghĩ, ấm áp và giàu lòng nhân hậu.
- Dù không đặt ra nhiều câu hỏi như em Mon, nhưng Mên vẫn trả lời bằng một
thái độ tỉnh táo, và hóa ra cậu bé cũng không ngủ được. Mên cũng nằm im, cố
đưa mình vào giấc ngủ, nhưng khi Mon nhắc lại một lần nữa: “Tổ chim sẽ bị
chìm mất”, Mên im lặng nhưng sau lại hỏi: Thế làm thế nào bây giờ?. Im lặng
một phút rồi đưa ra câu hỏi “Đi bây giờ à?”,
- Là một cậu bé tinh nghịch của trẻ em nhưng lại có vẻ trưởng thành của người
lớn. chín chắn và trưởng thành qua chính sự tin tưởng, sự dựa dẫm và cách đặt
câu hỏi liên tiếp về mọi thắc mắc của em Mon. Mên luôn là người giải đáp và
chỉ huy mọi việc cho cả hai anh em cùng nhau làm trong tất cả mọi tình
huống: quyết định lấy đò, chèo ra bờ sông, kéo đò vào bờ …
- Nét trẻ con: có những nét trẻ con thể hiện qua những lần cậu bé chợt sợ hãi
khi nghĩ về bố của mình, đây là một chi tiết khá là thú vị, bởi tâm lý của trẻ
em bao giờ cũng sẽ sợ bố mình.
- Cùng với người em của mình ẩn sâu bên trong ở nhân vật Mên, thì đó chính
là cậu bé có một trái tim đầy sự ấm áp, giàu tình yêu thương. Những hành
động lo lắng cho người em trai, cùng em trai chèo đò ra bờ sông …=> tâm hồn
giàu tình yêu thương thể hiện qua tâm lí của cậu, từ việc cậu lo lắng, rồi vỡ oà
trong vui sướng trong câu chuyện.
b. Tình huống bất ngờ
- Chi tiết nửa đêm nước sông dâng lên ngập bãi giữa sông ở đó có bầy chim
chìa vôi có nguy cơ bị đuối nước, nhấn chìm.
- Khi nước dâng lên cũng là lúc bầy chim chìa vôi kịp tung cánh bay lên trong
cảnh bình minh tuyệt đẹp, trong sự ngỡ ngàng của Mên và Mon.
- Xây dựng các tình huống bất ngờ trong truyện giúp truyện kể thêm thú vị,
tăng tình tiết câu chuyện, phù hợp tiếp nhận của bạn đọc nhỏ tuổi.
c. Sử dụng các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh tăng sức gợi hình, gợi
cảm
- Miêu tả bầy chim chìa vôi với các chi tiết chim bố và chim mẹ lo lắng, chăm
sóc cho bầy chim non thể hiện giàu tình yêu thương, lo lắng và hết lòng hi
sinh vì con.
- Việc bầy chim cần làm để thoát khỏi dòng nước: Tự bản thân phải nỗ lực hết
sức; chọn và quyết định, quyết liệt, dứt điểm, đúng thời điểm mới chiến thắng
được dàng nước lũ đang dâng lên. Đồng thời đã cho thấy sức sống mãnh liệt
và kì diệu của thế giới tự nhiên.
- Bầy chim non bé bỏng vụt bứt ra khỏi dòng nước và bay lên cao lại được coi
là “chuyến bay kì vĩ và quan trọng nhất trong đời” vì nó là bước khởi đầu biết
tự lập bay để thoát khỏi thử thách nguy hiểm; khẳng định sức sống mãnh liệt
của bản thân; đánh dấu sự trưởng thành...để lại nhiều bài học cho mỗi chúng
ta.
d. Sử dụng ngôi kể thứ 3 hấp dẫn, ngôn ngữ kể tự nhiên
- Nhà văn dùng ngôi kể thứ 3 – ngôi kể khách quan chứng kiến toàn bộ cảnh
hai anh em Mên và Mon từ khi tỉnh giấc đến khi học chứng kiến cảnh huy
hoàng bay lên của bầy chim chìa vôi trong cảnh bình minh đầy ngoạn mục.
- Kết hợp ngôn ngữ gần gũi giúp cho các nhân vật được thể hiện một cách
chân thực, sinh động, tự nhiên không chỉ góp phần thể hiện chủ đề ý nghĩa
nhân văn câu chuyện mà còn thể hiện tài năng, sự tinh tế trong việc nắm bắt
“thế giới ngôn ngữ trẻ thơ” giàu cảm xúc, trong trẻ, hồn nhiên và nhạy cảm
trước những gì xảy ra trong cuộc sống.
KẾT BÀI:
- Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm:
+ Từ truyện ngắn “Bầy chim chìa vôi”, ta cảm nhận được những điều ý
nghĩa từ những câu chuyện nhỏ của hai đứa trẻ đối với bầy chim chìa vôi;
thấy được sự ngây thơ, tình cảm trong sáng, hồn nhiên,tấm lòng nhân
hậu, yêu thương …
+ Truyện bồi dưỡng lòng trắc ẩn, tình yêu loài vật, yêu thiên nhiên quanh
mình..
- Suy nghĩ, liên hệ gợi ra từ tác phẩm:
+ Nhà văn cũng muốn gửi gắm một thông điệp sâu sắc về cuộc sống: Con
người cần sống hòa hợp và gắn bó hơn với thiên nhiên, với muôn loài. Đó
là một phần của cuộc sống.
BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT
Gắn bó với tuổi thơ của biết bao thế hệ thiếu nhi, nhà văn Nguyễn Quang
Thiều sở hữu nhiều tác phẩm đặc sắc, mang đậm dấu ấn. Trong đó, tác phẩm
“Bầy chim chìa vôi” là một trong số truyện tiêu biểu đón nhận sự yêu mến nhất
là độc giả nhỏ tuổi. Tác phẩm là một câu chuyện đẹp về tình yêu, sự gắn bó giữa
con người với thiên nhiên. Qua câu chuyện, chúng ta thấy được tấm lòng nhân
hậu, tình yêu thương của những đứa trẻ đối với bầy chim chìa vôi nhỏ bé nhưng
kiên cường, dũng cảm; mag đến cho bạn đọc những bài học ý nghĩa, giá trị trong
cuộc sống. (Bản quyền nhóm Hà An)
Truyện ngắn bắt đầu từ cuộc nói chuyện và suy nghĩ của hai anh em Mên
và Mon về tổ chìa vôi có thể bị nước sông nhấn chìm. Với tấm lòng nhân hậu,
hai anh em quyết định đi tới sông ngay trong đêm mưa. Tận mắt nhìn thấy
những chú chim non bay lên từ bãi cát giữa sông vào lúc bình minh, trong lòng
hai anh em trào lên sự vui vẻ, cảm động khó tả. Giữa đêm mưa, Mon và Mên
đều khó ngủ, lí do bắt nguồn từ sự lo lắng nước sông dâng cao ngập bãi sông,
hai anh lo lắng cho những chú chim chìa vôi non sẽ bị chết đuối. Sau khi trải
qua cả đêm vật lộn, bình minh đã đến, hai anh em cũng đã tới bãi sông. Khung
cảnh bình minh hiện ra đẹp kì diệu, ánh bình minh rọi sáng những hạt mưa trên
mặt sông thì một cảnh tượng như huyền thoại hiện ra, từ mặt nước những cánh
chim bé bỏng và ướt át đột ngột bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên. Cuộc cất
cánh của bầy chim chìa vôi non xảy ra một cách bất ngờ và ngoạn mục, khiến
hai anh em im lặng, hai đứa đứng không nhúc nhích, xúc động đến phát khóc
khi thấy bầy chim non bay lên và hạ cánh an toàn bên một lùm dứa dại bờ sông.
Đây là một khung cảnh vô cùng cảm động trong mắt hai bạn nhỏ, bởi với những
chú chim, bầy chim non thực hiện xong chuyến bay đầu tiên, quan trọng trong
cuộc đời của chúng, còn với Mon và Mên, đây là khung cảnh vỡ òa sau bao lo
lắng, bất an của hai anh em.
Với chủ đề viết về tuổi thơ và thiên nhiên (truyện về hai đứa trẻ và bầy
chim chìa vôi bên bãi sông gắn bó với quê hương) tác phẩm thể hiện được vẻ
đẹp của tâm hồn trẻ thơ nhạy cảm, trong sáng, tràn đầy tình yêu thương vạn vật
xung quanh. Không những thế tác phẩm còn khắc hoạ những cậu bé dũng cảm,
dám hành động, biết quan tâm, yêu thương những gì diễn ra xung quanh mình.
Câu chuyện mà nhà văn mang đến nhận được nhiều sự chú ý của độc giả trong
cách khai thác đề tài, chủ đề gần gũi cuộc sống nhưng chứa đựng ý nghĩa, giá trị
nhân sinh sâu sắc.
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã đưa người đọc trở về thế giới tuổi thơ
với việc xây dựng nhân vật hai anh em Mên và Mon đầy nghệ thuật. Miêu tả
tâm lí tinh tế, ngôn ngữ đối thoại sinh động; đặt nhân vật vào tình huống mang
tính thử thách để bộc lộ tính cách. Người đọc theo dõi hành trình câu chuyện từ
hai giờ sáng đến bình minh thức dậy bằng cách nói chuyện lo lắng, quan tâm
dành cho những chú chim chìa vôi non ở đầu câu chuyện, đến hành động ra sống
để cứu bầy chim rồi khó trong sự sung sướng bất ngờ ở cuối truyện ... Với tính
cách trẻ thơ hồn nhiên và trong sáng cùng với đó là một tấm lòng yêu thương
động vật và trân trọng sự sống của hai anh em. Qua những cử chỉ, hành động và
lời nói của các nhân vật thế giới tình yêu thương, sự vô tư, hồn nhiên, trong sáng
qua ngòi bút tài hoa của nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã thể hiện.
Chúng ta dễ nhận thấy dù là em nhỏ, nhưng Mon có những suy nghĩ, lo
lắng xuất phát từ trái tim tốt bụng, biết quan sát, lanh lợi và rất đáng yêu. Cậu bé
không thể chìm vào giấc ngủ vì lo cho sự sống những chú chim nhỏ có thể bị
dòng nước cuốn trôi, liên tục đặt ra những câu hỏi với chi tiết lặp lại: “anh
bảo…” đi kèm với các sự việc: mưa to không, nước sông lên có to không, bãi
cát giữa sông đã ngập chưa, những con chìa vôi… Dù Mon đã cố nghĩ sang
chuyện vui khác, nhưng suy nghĩ của em vẫn hướng tới bầy chim chìa vôi trên
sông, em rất lo cho tổ chim chìa vôi. “Những con chim chìa vôi non bị chết đuối
mất”. Nghĩ thế, sự ngập ngừng dần trở nên quyết đoán, khiến Mon đề xuất với
anh Mên: “Hay mình mang chúng nó vào bờ?” và dần thành một câu khẳng
định, quả quyết: “Mình phải đem chúng nó vào bờ, anh ạ”. Quyết định đi cứu
những chú chim non không phải đến từ anh Mên mà lại chính là Mon càng thể
hiện sự dũng cảm, nhân hậu và lòng quyết tâm của Mon.
Người anh trai Mên trong truyện ngắn khá yên tĩnh, có phần cục cằn và
hay gắt gỏng, thế nhưng bên trong đó lại là một cậu bé biết suy nghĩ, ấm áp và
giàu lòng nhân hậu. Tuy không đặt ra nhiều câu hỏi như em Mon, nhưng Mên
vẫn trả lời bằng một thái độ tỉnh táo, và hóa ra cậu bé cũng không ngủ được.
Mên cũng nằm im, cố đưa mình vào giấc ngủ, nhưng khi Mon nhắc lại một lần
nữa: “Tổ chim sẽ bị chìm mất”, Mên im lặng nhưng sau lại hỏi: Thế làm thế nào
bây giờ?. Im lặng một phút rồi đưa ra câu hỏi “Đi bây giờ à?”, đây không phải
câu hỏi thể hiện sự chần chừ mà là một lời nói giúp em trai Mon chắc chắn về
quyết định của mình. Bên cạnh đó nhân vật Mên là một cậu bé tuy mang nét tính
cách tinh nghịch của trẻ em nhưng lại có vẻ trưởng thành của người lớn. Vẻ
trưởng thành ấy của Mên đã được thể hiện rõ nét trong mối quan hệ với chính
em trai của mình tên là Mon. Hình dáng của Mên càng thêm chín chắn và trưởng
thành qua chính sự tin tưởng, sự dựa dẫm và cách đặt câu hỏi liên tiếp về mọi
thắc mắc của em Mon. Mên luôn là người giải đáp và chỉ huy mọi việc cho cả
hai anh em cùng nhau làm trong tất cả mọi tình huống. Chẳng hạn như những
việc quyết định lấy đò, chèo ra bờ sông để cùng nhau xem bầy chim chìa vôi
non, hay là kéo đò vào bờ để cất kẻo bị trôi đò trong đêm mưa. Nhưng ở cậu bé
Mên này, cũng lộ rõ những nét trẻ con có những nét trẻ con. Tính cách trẻ con
ấy của Mên được thể hiện qua những lần cậu bé chợt sợ hãi khi nghĩ về bố của
mình, đây là một chi tiết khá là thú vị, bởi tâm lý của trẻ em bao giờ cũng sẽ sợ
bố mình.
Cùng với người em của mình ẩn sâu bên trong ở nhân vật Mên, thì đó
chính là cậu bé có một trái tim đầy sự ấm áp, giàu tình yêu thương. Những hành
động lo lắng của cậu dành cho người em trai khi trong đêm mưa gió Mên đã
cùng em trai chèo đò ra bờ sông mục đích là kiểm tra tình hình mấy chú chim
chìa vôi non thế nào. Chính điều này đã thể hiện được cậu bé Mên có một tâm
hồn giàu tình yêu thương. Sự yêu thương đó, được thể hiện qua tâm lí của cậu,
từ việc cậu lo lắng, rồi vỡ oà trong vui sướng cho đến bật khóc khi những chú
chim chìa vôi đã được an toàn.
Ngoài ra nhà văn mang đến sự bất ngờ, hấp dẫn của câu chuyện bằng tình
huống truyện được tác giả xây dựng khá độc đáo. Khoảng hai giờ sáng, Mon
tỉnh giấc rồi quay sang gọi anh trai là Mên. Liên tiếp những câu hỏi như: “Anh
bảo mưa có to không?”, “Nhưng anh bảo ước sông có lên to không?” đã bộc lộ
được vẻ lo lắng, bồn chồn của Mon. Những câu hỏi dồn dập khiến Mên gắt lên:
“Bảo cái gì mà bảo lắm thế”. Nhưng khi nghe Mon nói rằng: “Em sợ những con
chim chìa vôi non bị chết đuối mất”, Mên cũng hiểu ra. Đáp lại câu nói của em
trai, Mên cũng bộc lộ sự lo lắng: “Tao cũng sợ”. Thế rồi, cả hai đều không ngủ
được, tiếp tục trò chuyện. Qua chi tiết này, có thể thấy được sự hồn nhiên, thơ
ngây của hai nhân vật này. Ngoài ra chi tiết khi nước dâng lên cũng là lúc bầy
chim chìa vôi kịp tung cánh bay lên trong cảnh bình minh. Chứng kiến những
cánh chim chìa vôi bé bỏng đã ướt át bứt ra khỏi mặt nước, dương cao đôi cánh
bay lên trời cao trong sự bất ngờ, hạnh phúc đến rơi nước mắt của hai bạn nhỏ vì
sự xúc động, vì tình yêu thương. Như vậy việc xây dựng các tình huống bất ngờ
trong truyện giúp chuyện kể thêm thú vị, tăng tình tiết câu chuyện, phù hợp tiếp
nhận của bạn đọc nhỏ tuổi.
Các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh cũng được nhà văn triệt để sử dụng
góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, giúp truyện kể về thế giới
thiên nhiên trở lên gần gũi với con người nhất là trẻ thơ. Đó là khung cảnh thiên
nhiên đầy ánh sáng bằng các hình ảnh nhân hoá, so sánh cùng cảnh tượng “như
huyền thoại” khi bầy chim bay lên bằng trong sự ngỡ ngàng, vỡ oà cảm xúc của
Men và Mon. Đó là cách miêu tả bầy chim chìa vôi với các chi tiết chim bố và
chim mẹ lo lắng, chăm sóc cho bầy chim non: “dẫn bầy chim non đi tránh
nước”, “đập cánh như để dạy và khuyến khích”, “sốt ruột mong đàn con chúng
có đủ sức nâng mình lên...” thể hiện giàu tình yêu thương, lo lắng và hết lòng hi
sinh vì con. Việc bầy chim cần làm để thoát khỏi dòng nước: Tự bản thân phải
nỗ lực hết sức; chọn và quyết định, quyết liệt, dứt điểm, đúng thời điểm mới
chiến thắng được dàng nước lũ đang dâng lên. Đồng thời đã cho thấy sức sống
mãnh liệt và kì diệu của thế giới tự nhiên. Bầy chim non bé bỏng vụt bứt ra khỏi
dòng nước và bay lên cao được nhà văn ví như “chuyến bay kì vĩ và quan trọng
nhất trong đời” là bước khởi đầu biết tự lập bay để thoát khỏi thử thách nguy
hiểm; khẳng định sức sống mãnh liệt của bản thân; đánh dấu sự trưởng
thành...đã để lại nhiều bài học cho mỗi chúng ta về việc đối mặt và vượt qua khó
khăn thử thách trong cuộc sống.
Một trong những đặc sắc góp phần thành công của câu chuyện phải kể
đến việc nhà văn lựa chọn dùng ngôi kể thứ 3, vốn là ngôi kể khách quan chứng
kiến toàn bộ cảnh hai anh em Mên và Mon từ khi tỉnh giấc đến khi học chứng
kiến cảnh huy hoàng bay lên của bầy chim chìa vôi trong cảnh bình minh đầy
ngoạn mục. Ngôi kể này có khi cùng với người kể chuyện dẫn dắt truyện kể:
“Khoảng hai giờ sáng Mon tỉnh giấc. Nó xoay mình sang phía anh nó, thì thào
gọi: - Thằng Mên hỏi lại, giọng nó ráo hoảnh như đã thức dậy từ lâu lắm rồi”; có
khi là lời nhân vật: “- Anh Mên ơi, anh Mên!; - Gì đấy? Mày không ngủ à?” cho
thấy sự linh hoạt và sáng tạo trong ngôi kể của nhà văn để giúp hai nhân vật
Mon và Mên từ người đọc trở nên thú vị, chân thực và đặc biệt hơn. Cùng với
đó là sự kết hợp ngôn ngữ gần gũi giúp cho các nhân vật được thể hiện một
cách chân thực, sinh động, tự nhiên không chỉ góp phần thể hiện chủ đề ý nghĩa
nhân văn câu chuyện mà còn thể hiện tài năng, sự tinh tế trong việc nắm bắt
“thế giới ngôn ngữ trẻ thơ” giàu cảm xúc, trong trẻ, hồn nhiên và nhạy cảm
trước những gì xảy ra trong cuộc sống.
Có thể nói với truyện ngắn Bầy chim chìa vôi, Nguyễn Quang Thiều đã gửi
gắm biết bao thế hệ bạn đọc cảm nhận được những điều ý nghĩa tốt đẹp nhân
văn từ những câu chuyện nhỏ của hai đứa trẻ đối với bầy chim chìa vôi bằng
chính sự ngây thơ, tình cảm trong sáng, hồn nhiên, tấm lòng nhân hậu, yêu
thương. Truyện bồi dưỡng lòng trắc ẩn, tình yêu loài vật, yêu thiên nhiên xung
quanh chúng ta. Từ câu chuyện mỗi chúng ta cảm nhận, hiểu sâu sắc thêm
thông điệp về cuộc sống: Con người cần sống hòa hợp và gắn bó hơn với thiên
nhiên, với muôn loài. Đó là một phần của cuộc sống.
ĐỀ SỐ 2: Phân tích truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa
DÀN Ý CHI TIẾT
MỞ BÀI:
- Giới thiệu khái quát về nhà văn Thạch Lam, cảm hứng sáng tác:
+ Cây bút nổi tiếng của văn học Việt Nam trước năm 1945; nhà văn thành
công với truyện ngắn với cách viết văn bình dị, giàu cảm xúc và đậm chất thơ.
+ Các tác phẩm ẩn chứa niềm tin yêu, trân trọng đối với thiên nhiên và con
người
- Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm:
+ Là một tác phẩm hay sáng tác năm 1937, Gió lạnh đầu mùa ca ngợi tình yêu
thương chia sẻ ấm áp, trong trẻo của con người với con người, đặc biệt tình
yêu thương vô tư của trẻ thơ.
THÂN BÀI:
1. Nêu nội dung chính của tác phẩm.
- Theo dòng cảm xúc của nhân vật Sơn, nhà văn đưa người đọc vào thế
giới cảm xúc trong trẻo của tuổi thơ. Cảnh mùa đông giá lạnh đến, hai chị Lan
và Sơn được mặc quần áo đẹp đẽ và ấm áp
- Kể việc hai chị em Sơn về lấy áo cho Hiên - cô bé nghèo xóm chợ
đang rét vì không co áo ấm mặc.
- Chuyện kết thúc với cuộc gặp giữa mẹ Hiên sang nhà Sơn trả lại áo
bông. Biết hoàn cảnh của gia đình Hiên, mẹ Sơn cho mẹ Hiên mượn tiền may
áo mới cho con.
2. Nêu chủ đề của tác phẩm.
- Truyện Gió lạnh đầu mùa cho chúng ta nhìn thấy được sự khác biệt rõ rệt
giữa những đứa trẻ trong gia đình nghèo khó và giàu có của những đứa trẻ nơi
phố chợ nghèo trong cơn gió lạnh đầu mùa và tình yêu thương giữa người với
người vẫn còn lan tỏa.
- Ttruyện cũng ca ngợi tấm lòng yêu thương và nhân ái của con người đối với
nhau.
3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
a. Xây dựng nhân vật
- Nhân vật xây dựng chủ yếu qua từng cảm xúc, tâm trạng gắn liền chuyển
biến của thiên nhiên, cảnh vật, sự việc…
* Nhân vật Sơn
- Tập trung khắc hoạ và gây được ấn tượng mạnh trong lòng người đọc khi
xuất hiện trong ngôi nhà ấm cúng của mình khi gió mùa về.
- Sơn cảm nhận rất rõ cái lạnh đầu mùa khi được mẹ, chị Lan chăm sóc ân cần,
mẹ nhắc chị Lan lấy áo cho em áo ấm. Gia đình Sơn thuộc tầng lớp trung lưu,
nên Sơn được ăn mặc rất sạch đẹp, em mặc áo dạ đỏ lẫn áo vệ sinh, áo vải
thâm bân ngoài. Sơn cảm nhận được sự biến đổi của thiên nhiên, cảnh vật khi
bước vào mùa đông.
- Cậu bé còn cảm nhận được không khí ấm áp, tình yêu thương của mẹ, của vú
già. Sơn là cậu bé ngoan ngoãn, sống giàu tình cảm, tinh tế biết quan sát và
cảm nhận được tâm trạng cảm xúc của người thân.
- Sơn là một cậu bé tốt bụng và giàu tình cảm khác với những người anh họ
của mình, Sơn luôn thân thiện và chơi đùa với những đứa trẻ nghèo trong
xóm. Tình huống ghi điểm nhất trong tính cách của Sơn là khi nhìn thấy Hiền
- cô bé hàng xóm không có áo ấm để mặc. Sơn lặng lẽ đứng chờ, trong lòng
cảm thấy “ấm áp vui sướng”. Vẻ đẹp tâm hồn của Sơn lại được thể hiện ở nét
đẹp đáng yêu, sự ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng ở cuối truyện.
- Với ngôn từ giản dị và giọng nói nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, nhân vật Sơn
được thể hiện một cách sinh động và chân thực. Thông qua nhân vật Sơn, nhà
văn đã gửi gắm những bài học quý giá về tình người trong cuộc sống.
* Các nhân vật khác (Lan, Hiên…)
- Ngoài việc khắc hoạ đậm nét nhân vật chính Sơn, Thạch Lam cũng dành tình
cảm, miêu tả kết hợp kể chỉ một vài chi tiết chấm phá cũng đủ hiện lên hình
ảnh các nhân vật khác.
- Nhân vật Lan - chị gái của Sơn là một cô bé đảm đang, tháo vát. Lan
dậy từ sớm cùng mẹ ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống, giúp mẹ lấy
thúng áo ra cho em mặc…
- Cô bé còn là một người giàu tình yêu thương đối với em trai, cô bé hết
mực yêu thương: là người gọi em dậy mỗi buổi sớm, an ủi động viên em...,
với trẻ con trong xóm và đặc biệt với cô bé Hiên hỏi thăm rất chân thành.
- Khi nghe em trai đề nghị đem chiếc áo bông cho Hiên, Lan cũng đồng ý
và còn hăm hở chạy về nhà lấy. Cùng với mẹ của mình, nhân vật Lan đã
mang đến cho chúng ta những trái tim ấm áp của tình thương của tình
người, bài học về tình yêu thương.
- Người đọc ấn tượng sâu sắc về cô bé Hiên, sinh ra trong một gia đình
nghèo khó. Mẹ Hiên làm nghề mò cua bắt ốc kiếm ăn qua ngày nên không
có tiền may áo ấm cho con. Cô bé chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả
lưng và tay.
- Cô bé không cô đơn, mà nhận được tình yêu thương của chị em Sơn.
Lan và Sơn đã quyết định đem chiếc áo của em Duyên cho Hiên. Chiếc áo
mà Hiên nhận được gửi gắm tấm lòng nhân ái, thảo thơm. Hiên hiện lên
là một cô bé đáng thương, nhưng em không bất hạnh. Vì Hiên luôn có
tình yêu thương của người mẹ tảo tần, và cả tình yêu thương của chị em
Sơn.
b. Giàu chất thơ, chất trữ tình
- Tác phẩm giầu chất trữ tình, với ngôn ngữ nhẹ nhàng, giản dị, chân thực,
thiên truyện ngắn giàu chất trữ tình, bàng bạc chất thơ. Chất trữ tình là một
trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn và góp vào thành công của truyện.
- Chất thơ, chất trữ tình trong dưới nét bút của Thạch Lam, thiên nhiên bên
ngoài là cái cớ để khơi gợi thế giới nội tâm lung linh sâu lắng, thế giới của
những cảm xúc vô bờ mà cứ nhè nhẹ thắm tình người.
- Trong tác phẩm hà văn đã miêu tả tinh tế và chính xác sự chuyển đổi mùa từ
cuối thu sang đầu đông bằng những từ ngữ cô đọng, vừa tượng thanh, vừa
tượng hình vừa khơi gợi cảm xúc: “cái nắng tháng mười làm nứt nẻ đồng
ruộng và làm giòn khô những chiếc lá rơi …”, “ngoài sân đất khô trắng… cơn
gió vi vu làm bốc lên những làn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo…”
- Chất trữ tình còn tạo nên lời văn mượt mà, trau chuốt đầy chất thơ, giàu chất
họa, âm thanh nhẹ nhàng, êm ái mà đầy suy tư, một ngôn ngữ như được chắp
cánh thơ, nâng người đọc đến những cảm xúc thẩm mĩ sâu sắc.
- Thạch Lam đã khéo quan sát tinh tường, chọn những chi tiết hết sức tiêu biểu
từ màu sắc, âm thanh đến sự chuyển động của cảnh chuyển mùa trong cái lạnh
đầu đông để hoài niệm ở đầu cũng như khung cảnh câu chuyện…
c. Thủ pháp đối lập gắn với hình ảnh biểu tượng Gió lạnh đầu mùa
- Đối lập là một thủ pháp nghệ thuật hay được tác giả vận dụng trong đó có
nhiều sáng tác của Thạch Lam.
- Trong Gió lạnh đầu mùa tác giả đã vẽ nên trong tác phẩm hai mảnh đời đối
lập gắn với hình ảnh biểu tượng “Gió lạnh đầu mùa”:
+ Đó là Sơn - một đứa trẻ may mắn khi được thức dậy trong cái chăn ấm áp,
được sưởi tay trong hỏa lò, được mẹ và chị chăm sóc kỹ lưỡng, khi lo cho
từng “chén chè nóng ấp vào mặt, vào má cho ấm”. Sơn có đến những hai chiếc
áo rét cực dày, “một cái áo vệ sinh màu nâu sẫm và một cái áo dạ khâu chỉ
đỏ”, tuy đã mặc từ năm ngoái, năm kia nhưng khi cầm chúng giơ lên Sơn vẫn
“thấy mát lạnh cả tay”.
+ Là những đứa trẻ xóm chợ trong đó có cô bé Hiên vì nghèo khó phải vẫn
phải đem da thịt trần trụi trong “bộ quần áo nâu bạc, đã rách vá nhiều
chỗ” căng sức chống chọi với giá rét. Những đứa trẻ xóm chợ rất đáng thương
với đôi môi chúng nó 'tím lại'', chỗ áo quần rách 'da thịt thâm đi'.
- Gió lạnh thổi đến, chúng nó lại 'run lên', 'hai hàm răng đập vào nhau'.
Những chiếc áo rét năm ngoái, năm kia tưởng chừng như xưa cũ với Sơn nay
lại là một niềm mơ ước, một món hàng xa xỉ với lũ trẻ. Chúng bỏ dở những trò
chơi con trẻ, chỉ để được ngắm, được sờ và được ao ước, mộng tưởng về
những chiếc áo của Sơn.
- Người đọc có thể thấy hoàn cảnh của những đứa trẻ rất khác biệt khi gió mùa
về. Trong khi chị em Sơn sống trong gia đình sung túc, được mặc ấm, mặc đẹp
thì bọn trẻ con nhà nghèo ăn mặc rách rưới, thiếu thốn đáng thương.
- Dù trái ngược đối lập về hoàn cảnh sống như một phần của xã hội trước cách
mạng tháng 8 năm 1945 được nhà văn sáng tác truyện vào năm 1937 nhưng đó
chỉ là bề ngoài hình thức thể hiện của tác phẩm còn sâu thẳm bên trong là chủ
đề còn mãi với thời gian với những đứa sống giàu tình thương, tốt bụng, trong
sáng, đáng yêu, giàu lòng trắc ẩn.
KẾT BÀI:
- Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm:
+ Thời gian dù có trôi qua, khung cảnh câu chuyện có phai mờ nhưng tình
người, nghĩa cử ấm ấp của chị em Sơn mãi mãi là việc tử tế được tâm hồn giàu
tình thương của Thạch Lam dành trọn không chỉ trong truyện ngắn này lan toả
trong tim biết bao người.
+ Đó là tình nhân đạo thấm đẫm làm nên chất thơ trong truyện ngắn Thạch
Lam.
- Liên hệ:
+ Nhà văn như thì thầm với chúng ta hãy bồi dưỡng và phát huy lòng nhân ái,
hãy sống bằng tình người bao dung.
+ Lan toả tình người và tình đời để tình yêu thương, việc tử tế bước ra ngoài
trang sách thật nhiều, tô đẹp thêm cho cuộc sống….
BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT
Là một cây bút nổi tiếng của văn học Việt Nam trước năm 1945, nhà văn
Thạch Lam thành công với thể loại truyện ngắn với phong cách viết văn bình dị,
giàu cảm xúc và đậm chất thơ. Các tác phẩm của ông ẩn chứa niềm tin yêu, trân
trọng đối với thiên nhiên và con người. Sáng tác năm 1937, truyện “Gió lạnh
đầu mùa” toả mãi trong lòng người sự ấm áp của tình người và tình đời. Với cốt
truyện đơn giản nói về chuyện cho áo, trả áo rét giữa ba đứa trẻ và hai người mẹ
nơi phố huyện nghèo, truyện ca ngợi tình yêu thương chia sẻ ấm áp, trong trẻo
của con người với con người, đặc biệt tình yêu thương vô tư của trẻ thơ.
Nhà văn đưa người đọc vào thế giới cảm xúc trong trẻo của tuổi thơ. Mùa
đông giá lạnh đã đến, hai chị Lan và Sơn được mặc quần áo đẹp đẽ và ấm áp.
Hai chị em Sơn ra xóm chợ chơi và thấy những người bạn nghèo mặc những bộ
quần áo bạc màu, nhiều chỗ vá. Đặc biệt là em Hiên chỉ có mang áo rách tả tơi,
co ro chịu rét. Chị Lan hăm hở về lấy áo cho Hiên, Sơn cảm thấy trong ḷòng ấm
áp, vui vui. Chuyện cho áo đến tai người thân, lo sợ bị mẹ mắng, hai chị em đi
tìm Hiên đòi áo. Mẹ Hiên sang nhà Sơn trả lại áo bông. Biết hoàn cảnh của gia
đình Hiên, mẹ Sơn cho mẹ Hiên mượn tiền may áo mới cho con.
Truyện Gió lạnh đầu mùa cho chúng ta nhìn thấy được sự khác biệt rõ rệt
giữa những đứa trẻ trong gia đình nghèo khó và giàu có của những đứa trẻ nơi
phố chợ nghèo trong cơn gió lạnh đầu mùa và tình yêu thương giữa người với
người vẫn còn lan tỏa. Đồng thời truyện cũng ca ngợi tấm lòng yêu thương và
nhân ái của con người đối với nhau trong cuộc sống.
Trong truyện Giáo lạnh đầu mùa, nhân vật được Thạch Lam xây dựng chủ
yếu qua từng cảm xúc, tâm trạng gắn liền chuyển biến của thiên nhiên, cảnh vật,
sự việc. Nhân vật không được kể nhiều về hình dáng, ngoại hình mà nhà văn tập
trung miêu tả khai thác diễn biến tâm lí của nhân vật giúp người đọc thấy được
vẻ đẹp trong tính cách tâm hồn.
Nhân vật được nhà văn tập trung khắc hoạ và gây được ấn tượng mạnh
trong lòng người đọc đó là nhân vật Sơn. Nhân vật này xuất hiện trong ngôi nhà
ấm cúng của mình khi gió mùa về. Trời đang ấm, chỉ qua một đêm mưa rào,
bỗng gió rét thổi về. Ai cũng tưởng như đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn
“tung chăn tỉnh dậy”, em nhìn ra ngoài sân, nghe “gió vi vu…”, âm thanh xào
xạc của những chiếc lá khô. Những khóm lan “lá rung động và hình như sắt lại
vì rét”… Sơn cảm nhận rất rõ cái lạnh đầu mùa, được mẹ, chị Lan chăm sóc ân
cần, mẹ nhắc chị Lan lấy áo cho em áo ấm. Gia đình Sơn thuộc tầng lớp trung
lưu, nên được ăn mặc rất sạch đẹp, em mặc áo dạ đỏ lẫn áo vệ sinh, áo vải thâm
bân ngoài. Sơn cảm nhận được sự biến đổi của thiên nhiên, cảnh vật khi bước
vào mùa đông. Cậu bé còn cảm nhận được không khí ấm áp, tình yêu thương
của mẹ, của vú già. Khi vú nhắc đến chuyện chiếc áo bông, mẹ Sơn nhắc đến
em Duyên, người em, đã mất nhớ em, Sơn cảm động và thương em quá. Sơn
thấy mẹ rơm rớm nước mắt. Có thể nói, ngay đầu tác phẩm, người đọc đã cảm
nhận được không khí ấm áp của gia đình Sơn, cảm nhận được Sơn là cậu bé
ngoan ngoãn, sống giàu tình cảm, tinh tế biết quan sát và cảm nhận được tâm
trạng cảm xúc của người thân.
Tuy nhiên, Sơn không hề tỏ ra kiêu ngạo, xa cách mà vẫn là một cậu bé
tốt bụng và giàu tình cảm. Khác với những người anh họ của mình, Sơn luôn
thân thiện và chơi đùa với lũ trẻ hàng xóm Túc Cúc, Xuân, Tí, Túc - những đứa
trẻ nghèo trong xóm. Tình huống ghi điểm nhất trong tính cách của Sơn là khi
nhìn thấy Hiền - cô bé hàng xóm không có áo ấm để mặc. Thấy Hiền đứng “co
ro” gần quán nước, trong gió lạnh chỉ mặc độc chiếc áo “tả tơi”, “hở cả lưng, hở
tay”, Sơn chợt nhớ mẹ Hiền nghèo lắm, nhớ Duyên ngày trước. Này trong vườn.
Một ý hay nảy ra trong đầu Sơn, đó là đem chiếc ...
Sách KẾT NỐI TRI THỨC LỚP 8 KÌ 2
BÀI 6: CHÂN DUNG CUỘC SỐNG
VIẾT: VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
(TRUYỆN)
ĐỀ SỐ 1: Phân tích truyện ngắn Bầy chim chìa vôi
DÀN Ý CHI TIẾT
MỞ BÀI:
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, sáng tác:
+ Tác giả Nguyễn Quang Thiều (13/02/1957) là một nhà thơ, nhà văn, là cây
bút đa năng và sung sức, xuất hiện thường xuyên trên văn đàn, báo chí.
+ Có nhiều sáng tác hay cho thiếu nhi với lối viết chân thực, gần gũi với cuộc
sống đời thường
- Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm:
+ Tác phẩm Bầy chim chìa vôi được trích trong tập “Mùa hoa cải bên sông”.
Tác phẩm là một câu chuyện đẹp về tình yêu, sự gắn bó giữa con người với
thiên nhiên.
+ Qua câu chuyện, chúng ta thấy được tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương của
những đứa trẻ đối với bầy chim chìa vôi nhỏ bé nhưng kiên cường, dũng cảm
THÂN BÀI:
1. Nội dung chính của truyện.
- Cuộc nói chuyện và suy nghĩ đầy lo lắng của hai anh em Mên và Mon về tổ
chim chìa vôi có thể bị nước sông nhấn chìm lúc 2 giờ sáng khi tỉnh giấc.
- Hai anh em quyết định đi tới sông ngay trong đêm mưa để cứu bầy chim chìa
vôi.
- Tận mắt nhìn thấy những chú chim non bay lên từ bãi cát giữa sông vào lúc
bình minh, trong lòng hai anh em trào lên sự vui vẻ, cảm động khó tả.
2. Nêu chủ đề của truyện.
- Chủ đề viết về tuổi thơ và thiên nhiên (truyện về hai đứa trẻ và bầy chim chìa
vôi bên bãi sông gắn bó với quê hương) tác phẩm thể hiện được vẻ đẹp của
tâm hồn trẻ thơ nhạy cảm, trong sáng, tràn đầy tình yêu thương vạn vật xung
quanh.
- Khắc hoạ những cậu bé dũng cảm, dám hành động, biết quan tâm, yêu
thương những gì diễn ra xung quanh mình.
- Câu chuyện mà nhà văn mang đến nhận được nhiều sự chú ý của độc giả
trong cách khai thác đề tài, chủ đề gần gũi cuộc sống nhưng chứa đựng ý
nghĩa, giá trị nhân sinh sâu sắc.
3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
a. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Thế giới tuổi thơ với việc xây dựng nhân vật hai anh em Mên và Mon đầy
nghệ thuật. Miêu tả tâm lí tinh tế, ngôn ngữ đối thoại sinh động; đặt nhân vật
vào tình huống mang tính thử thách để bộc lộ tính cách.
- Người đọc theo dõi hành trình câu chuyện từ hai giờ sáng đến bình minh
thức dậy bằng cách nói chuyện lo lắng, quan tâm dành cho những chú chim
chìa vôi non ở đầu câu chuyện, đến hành động ra sống để cứu bầy chim rồi
khó trong sự sung sướng bất ngờ ở cuối truyện ...
- Qua những cử chỉ, hành động và lời nói của các nhân vật thế giới tình yêu
thương, sự vô tư, hồn nhiên, trong sáng qua ngòi bút tài hoa của nhà văn đã
thể hiện.
* Nhân vật Mon:
- Mon là em nhưng Mon có những suy nghĩ, lo lắng xuất phát từ trái tim tốt
bụng, biết quan sát, lanh lợi và rất đáng yêu.
- Không thể ngủ vì lo cho sự sống những chú chim nhỏ có thể bị dòng nước
cuốn trôi, liên tục đặt ra những câu hỏi với chi tiết lặp lại: “anh bảo…” đi kèm
với việc: mưa to không, nước sông lên có to không, bãi cát giữa sông đã ngập
chưa, những con chìa vôi…
- Luôn suy nghĩ của em vẫn hướng tới bầy chim chìa vôi trên sông, em rất lo
cho tổ chim chìa vôi. “Những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất”; đề
xuất với anh Mên: “Hay mình mang chúng nó vào bờ?” và dần thành một câu
khẳng định, quả quyết: “Mình phải đem chúng nó vào bờ, anh ạ”. Quyết định
đi cứu những chú chim non không phải đến từ anh Mên mà lại chính là Mon
càng thể hiện sự dũng cảm, nhân hậu và lòng quyết tâm của Mon.
* Nhân vật Mên:
- Người anh trai khá yên tĩnh, có phần cục cằn và hay gắt gỏng, nhưng biết suy
nghĩ, ấm áp và giàu lòng nhân hậu.
- Dù không đặt ra nhiều câu hỏi như em Mon, nhưng Mên vẫn trả lời bằng một
thái độ tỉnh táo, và hóa ra cậu bé cũng không ngủ được. Mên cũng nằm im, cố
đưa mình vào giấc ngủ, nhưng khi Mon nhắc lại một lần nữa: “Tổ chim sẽ bị
chìm mất”, Mên im lặng nhưng sau lại hỏi: Thế làm thế nào bây giờ?. Im lặng
một phút rồi đưa ra câu hỏi “Đi bây giờ à?”,
- Là một cậu bé tinh nghịch của trẻ em nhưng lại có vẻ trưởng thành của người
lớn. chín chắn và trưởng thành qua chính sự tin tưởng, sự dựa dẫm và cách đặt
câu hỏi liên tiếp về mọi thắc mắc của em Mon. Mên luôn là người giải đáp và
chỉ huy mọi việc cho cả hai anh em cùng nhau làm trong tất cả mọi tình
huống: quyết định lấy đò, chèo ra bờ sông, kéo đò vào bờ …
- Nét trẻ con: có những nét trẻ con thể hiện qua những lần cậu bé chợt sợ hãi
khi nghĩ về bố của mình, đây là một chi tiết khá là thú vị, bởi tâm lý của trẻ
em bao giờ cũng sẽ sợ bố mình.
- Cùng với người em của mình ẩn sâu bên trong ở nhân vật Mên, thì đó chính
là cậu bé có một trái tim đầy sự ấm áp, giàu tình yêu thương. Những hành
động lo lắng cho người em trai, cùng em trai chèo đò ra bờ sông …=> tâm hồn
giàu tình yêu thương thể hiện qua tâm lí của cậu, từ việc cậu lo lắng, rồi vỡ oà
trong vui sướng trong câu chuyện.
b. Tình huống bất ngờ
- Chi tiết nửa đêm nước sông dâng lên ngập bãi giữa sông ở đó có bầy chim
chìa vôi có nguy cơ bị đuối nước, nhấn chìm.
- Khi nước dâng lên cũng là lúc bầy chim chìa vôi kịp tung cánh bay lên trong
cảnh bình minh tuyệt đẹp, trong sự ngỡ ngàng của Mên và Mon.
- Xây dựng các tình huống bất ngờ trong truyện giúp truyện kể thêm thú vị,
tăng tình tiết câu chuyện, phù hợp tiếp nhận của bạn đọc nhỏ tuổi.
c. Sử dụng các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh tăng sức gợi hình, gợi
cảm
- Miêu tả bầy chim chìa vôi với các chi tiết chim bố và chim mẹ lo lắng, chăm
sóc cho bầy chim non thể hiện giàu tình yêu thương, lo lắng và hết lòng hi
sinh vì con.
- Việc bầy chim cần làm để thoát khỏi dòng nước: Tự bản thân phải nỗ lực hết
sức; chọn và quyết định, quyết liệt, dứt điểm, đúng thời điểm mới chiến thắng
được dàng nước lũ đang dâng lên. Đồng thời đã cho thấy sức sống mãnh liệt
và kì diệu của thế giới tự nhiên.
- Bầy chim non bé bỏng vụt bứt ra khỏi dòng nước và bay lên cao lại được coi
là “chuyến bay kì vĩ và quan trọng nhất trong đời” vì nó là bước khởi đầu biết
tự lập bay để thoát khỏi thử thách nguy hiểm; khẳng định sức sống mãnh liệt
của bản thân; đánh dấu sự trưởng thành...để lại nhiều bài học cho mỗi chúng
ta.
d. Sử dụng ngôi kể thứ 3 hấp dẫn, ngôn ngữ kể tự nhiên
- Nhà văn dùng ngôi kể thứ 3 – ngôi kể khách quan chứng kiến toàn bộ cảnh
hai anh em Mên và Mon từ khi tỉnh giấc đến khi học chứng kiến cảnh huy
hoàng bay lên của bầy chim chìa vôi trong cảnh bình minh đầy ngoạn mục.
- Kết hợp ngôn ngữ gần gũi giúp cho các nhân vật được thể hiện một cách
chân thực, sinh động, tự nhiên không chỉ góp phần thể hiện chủ đề ý nghĩa
nhân văn câu chuyện mà còn thể hiện tài năng, sự tinh tế trong việc nắm bắt
“thế giới ngôn ngữ trẻ thơ” giàu cảm xúc, trong trẻ, hồn nhiên và nhạy cảm
trước những gì xảy ra trong cuộc sống.
KẾT BÀI:
- Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm:
+ Từ truyện ngắn “Bầy chim chìa vôi”, ta cảm nhận được những điều ý
nghĩa từ những câu chuyện nhỏ của hai đứa trẻ đối với bầy chim chìa vôi;
thấy được sự ngây thơ, tình cảm trong sáng, hồn nhiên,tấm lòng nhân
hậu, yêu thương …
+ Truyện bồi dưỡng lòng trắc ẩn, tình yêu loài vật, yêu thiên nhiên quanh
mình..
- Suy nghĩ, liên hệ gợi ra từ tác phẩm:
+ Nhà văn cũng muốn gửi gắm một thông điệp sâu sắc về cuộc sống: Con
người cần sống hòa hợp và gắn bó hơn với thiên nhiên, với muôn loài. Đó
là một phần của cuộc sống.
BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT
Gắn bó với tuổi thơ của biết bao thế hệ thiếu nhi, nhà văn Nguyễn Quang
Thiều sở hữu nhiều tác phẩm đặc sắc, mang đậm dấu ấn. Trong đó, tác phẩm
“Bầy chim chìa vôi” là một trong số truyện tiêu biểu đón nhận sự yêu mến nhất
là độc giả nhỏ tuổi. Tác phẩm là một câu chuyện đẹp về tình yêu, sự gắn bó giữa
con người với thiên nhiên. Qua câu chuyện, chúng ta thấy được tấm lòng nhân
hậu, tình yêu thương của những đứa trẻ đối với bầy chim chìa vôi nhỏ bé nhưng
kiên cường, dũng cảm; mag đến cho bạn đọc những bài học ý nghĩa, giá trị trong
cuộc sống. (Bản quyền nhóm Hà An)
Truyện ngắn bắt đầu từ cuộc nói chuyện và suy nghĩ của hai anh em Mên
và Mon về tổ chìa vôi có thể bị nước sông nhấn chìm. Với tấm lòng nhân hậu,
hai anh em quyết định đi tới sông ngay trong đêm mưa. Tận mắt nhìn thấy
những chú chim non bay lên từ bãi cát giữa sông vào lúc bình minh, trong lòng
hai anh em trào lên sự vui vẻ, cảm động khó tả. Giữa đêm mưa, Mon và Mên
đều khó ngủ, lí do bắt nguồn từ sự lo lắng nước sông dâng cao ngập bãi sông,
hai anh lo lắng cho những chú chim chìa vôi non sẽ bị chết đuối. Sau khi trải
qua cả đêm vật lộn, bình minh đã đến, hai anh em cũng đã tới bãi sông. Khung
cảnh bình minh hiện ra đẹp kì diệu, ánh bình minh rọi sáng những hạt mưa trên
mặt sông thì một cảnh tượng như huyền thoại hiện ra, từ mặt nước những cánh
chim bé bỏng và ướt át đột ngột bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên. Cuộc cất
cánh của bầy chim chìa vôi non xảy ra một cách bất ngờ và ngoạn mục, khiến
hai anh em im lặng, hai đứa đứng không nhúc nhích, xúc động đến phát khóc
khi thấy bầy chim non bay lên và hạ cánh an toàn bên một lùm dứa dại bờ sông.
Đây là một khung cảnh vô cùng cảm động trong mắt hai bạn nhỏ, bởi với những
chú chim, bầy chim non thực hiện xong chuyến bay đầu tiên, quan trọng trong
cuộc đời của chúng, còn với Mon và Mên, đây là khung cảnh vỡ òa sau bao lo
lắng, bất an của hai anh em.
Với chủ đề viết về tuổi thơ và thiên nhiên (truyện về hai đứa trẻ và bầy
chim chìa vôi bên bãi sông gắn bó với quê hương) tác phẩm thể hiện được vẻ
đẹp của tâm hồn trẻ thơ nhạy cảm, trong sáng, tràn đầy tình yêu thương vạn vật
xung quanh. Không những thế tác phẩm còn khắc hoạ những cậu bé dũng cảm,
dám hành động, biết quan tâm, yêu thương những gì diễn ra xung quanh mình.
Câu chuyện mà nhà văn mang đến nhận được nhiều sự chú ý của độc giả trong
cách khai thác đề tài, chủ đề gần gũi cuộc sống nhưng chứa đựng ý nghĩa, giá trị
nhân sinh sâu sắc.
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã đưa người đọc trở về thế giới tuổi thơ
với việc xây dựng nhân vật hai anh em Mên và Mon đầy nghệ thuật. Miêu tả
tâm lí tinh tế, ngôn ngữ đối thoại sinh động; đặt nhân vật vào tình huống mang
tính thử thách để bộc lộ tính cách. Người đọc theo dõi hành trình câu chuyện từ
hai giờ sáng đến bình minh thức dậy bằng cách nói chuyện lo lắng, quan tâm
dành cho những chú chim chìa vôi non ở đầu câu chuyện, đến hành động ra sống
để cứu bầy chim rồi khó trong sự sung sướng bất ngờ ở cuối truyện ... Với tính
cách trẻ thơ hồn nhiên và trong sáng cùng với đó là một tấm lòng yêu thương
động vật và trân trọng sự sống của hai anh em. Qua những cử chỉ, hành động và
lời nói của các nhân vật thế giới tình yêu thương, sự vô tư, hồn nhiên, trong sáng
qua ngòi bút tài hoa của nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã thể hiện.
Chúng ta dễ nhận thấy dù là em nhỏ, nhưng Mon có những suy nghĩ, lo
lắng xuất phát từ trái tim tốt bụng, biết quan sát, lanh lợi và rất đáng yêu. Cậu bé
không thể chìm vào giấc ngủ vì lo cho sự sống những chú chim nhỏ có thể bị
dòng nước cuốn trôi, liên tục đặt ra những câu hỏi với chi tiết lặp lại: “anh
bảo…” đi kèm với các sự việc: mưa to không, nước sông lên có to không, bãi
cát giữa sông đã ngập chưa, những con chìa vôi… Dù Mon đã cố nghĩ sang
chuyện vui khác, nhưng suy nghĩ của em vẫn hướng tới bầy chim chìa vôi trên
sông, em rất lo cho tổ chim chìa vôi. “Những con chim chìa vôi non bị chết đuối
mất”. Nghĩ thế, sự ngập ngừng dần trở nên quyết đoán, khiến Mon đề xuất với
anh Mên: “Hay mình mang chúng nó vào bờ?” và dần thành một câu khẳng
định, quả quyết: “Mình phải đem chúng nó vào bờ, anh ạ”. Quyết định đi cứu
những chú chim non không phải đến từ anh Mên mà lại chính là Mon càng thể
hiện sự dũng cảm, nhân hậu và lòng quyết tâm của Mon.
Người anh trai Mên trong truyện ngắn khá yên tĩnh, có phần cục cằn và
hay gắt gỏng, thế nhưng bên trong đó lại là một cậu bé biết suy nghĩ, ấm áp và
giàu lòng nhân hậu. Tuy không đặt ra nhiều câu hỏi như em Mon, nhưng Mên
vẫn trả lời bằng một thái độ tỉnh táo, và hóa ra cậu bé cũng không ngủ được.
Mên cũng nằm im, cố đưa mình vào giấc ngủ, nhưng khi Mon nhắc lại một lần
nữa: “Tổ chim sẽ bị chìm mất”, Mên im lặng nhưng sau lại hỏi: Thế làm thế nào
bây giờ?. Im lặng một phút rồi đưa ra câu hỏi “Đi bây giờ à?”, đây không phải
câu hỏi thể hiện sự chần chừ mà là một lời nói giúp em trai Mon chắc chắn về
quyết định của mình. Bên cạnh đó nhân vật Mên là một cậu bé tuy mang nét tính
cách tinh nghịch của trẻ em nhưng lại có vẻ trưởng thành của người lớn. Vẻ
trưởng thành ấy của Mên đã được thể hiện rõ nét trong mối quan hệ với chính
em trai của mình tên là Mon. Hình dáng của Mên càng thêm chín chắn và trưởng
thành qua chính sự tin tưởng, sự dựa dẫm và cách đặt câu hỏi liên tiếp về mọi
thắc mắc của em Mon. Mên luôn là người giải đáp và chỉ huy mọi việc cho cả
hai anh em cùng nhau làm trong tất cả mọi tình huống. Chẳng hạn như những
việc quyết định lấy đò, chèo ra bờ sông để cùng nhau xem bầy chim chìa vôi
non, hay là kéo đò vào bờ để cất kẻo bị trôi đò trong đêm mưa. Nhưng ở cậu bé
Mên này, cũng lộ rõ những nét trẻ con có những nét trẻ con. Tính cách trẻ con
ấy của Mên được thể hiện qua những lần cậu bé chợt sợ hãi khi nghĩ về bố của
mình, đây là một chi tiết khá là thú vị, bởi tâm lý của trẻ em bao giờ cũng sẽ sợ
bố mình.
Cùng với người em của mình ẩn sâu bên trong ở nhân vật Mên, thì đó
chính là cậu bé có một trái tim đầy sự ấm áp, giàu tình yêu thương. Những hành
động lo lắng của cậu dành cho người em trai khi trong đêm mưa gió Mên đã
cùng em trai chèo đò ra bờ sông mục đích là kiểm tra tình hình mấy chú chim
chìa vôi non thế nào. Chính điều này đã thể hiện được cậu bé Mên có một tâm
hồn giàu tình yêu thương. Sự yêu thương đó, được thể hiện qua tâm lí của cậu,
từ việc cậu lo lắng, rồi vỡ oà trong vui sướng cho đến bật khóc khi những chú
chim chìa vôi đã được an toàn.
Ngoài ra nhà văn mang đến sự bất ngờ, hấp dẫn của câu chuyện bằng tình
huống truyện được tác giả xây dựng khá độc đáo. Khoảng hai giờ sáng, Mon
tỉnh giấc rồi quay sang gọi anh trai là Mên. Liên tiếp những câu hỏi như: “Anh
bảo mưa có to không?”, “Nhưng anh bảo ước sông có lên to không?” đã bộc lộ
được vẻ lo lắng, bồn chồn của Mon. Những câu hỏi dồn dập khiến Mên gắt lên:
“Bảo cái gì mà bảo lắm thế”. Nhưng khi nghe Mon nói rằng: “Em sợ những con
chim chìa vôi non bị chết đuối mất”, Mên cũng hiểu ra. Đáp lại câu nói của em
trai, Mên cũng bộc lộ sự lo lắng: “Tao cũng sợ”. Thế rồi, cả hai đều không ngủ
được, tiếp tục trò chuyện. Qua chi tiết này, có thể thấy được sự hồn nhiên, thơ
ngây của hai nhân vật này. Ngoài ra chi tiết khi nước dâng lên cũng là lúc bầy
chim chìa vôi kịp tung cánh bay lên trong cảnh bình minh. Chứng kiến những
cánh chim chìa vôi bé bỏng đã ướt át bứt ra khỏi mặt nước, dương cao đôi cánh
bay lên trời cao trong sự bất ngờ, hạnh phúc đến rơi nước mắt của hai bạn nhỏ vì
sự xúc động, vì tình yêu thương. Như vậy việc xây dựng các tình huống bất ngờ
trong truyện giúp chuyện kể thêm thú vị, tăng tình tiết câu chuyện, phù hợp tiếp
nhận của bạn đọc nhỏ tuổi.
Các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh cũng được nhà văn triệt để sử dụng
góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, giúp truyện kể về thế giới
thiên nhiên trở lên gần gũi với con người nhất là trẻ thơ. Đó là khung cảnh thiên
nhiên đầy ánh sáng bằng các hình ảnh nhân hoá, so sánh cùng cảnh tượng “như
huyền thoại” khi bầy chim bay lên bằng trong sự ngỡ ngàng, vỡ oà cảm xúc của
Men và Mon. Đó là cách miêu tả bầy chim chìa vôi với các chi tiết chim bố và
chim mẹ lo lắng, chăm sóc cho bầy chim non: “dẫn bầy chim non đi tránh
nước”, “đập cánh như để dạy và khuyến khích”, “sốt ruột mong đàn con chúng
có đủ sức nâng mình lên...” thể hiện giàu tình yêu thương, lo lắng và hết lòng hi
sinh vì con. Việc bầy chim cần làm để thoát khỏi dòng nước: Tự bản thân phải
nỗ lực hết sức; chọn và quyết định, quyết liệt, dứt điểm, đúng thời điểm mới
chiến thắng được dàng nước lũ đang dâng lên. Đồng thời đã cho thấy sức sống
mãnh liệt và kì diệu của thế giới tự nhiên. Bầy chim non bé bỏng vụt bứt ra khỏi
dòng nước và bay lên cao được nhà văn ví như “chuyến bay kì vĩ và quan trọng
nhất trong đời” là bước khởi đầu biết tự lập bay để thoát khỏi thử thách nguy
hiểm; khẳng định sức sống mãnh liệt của bản thân; đánh dấu sự trưởng
thành...đã để lại nhiều bài học cho mỗi chúng ta về việc đối mặt và vượt qua khó
khăn thử thách trong cuộc sống.
Một trong những đặc sắc góp phần thành công của câu chuyện phải kể
đến việc nhà văn lựa chọn dùng ngôi kể thứ 3, vốn là ngôi kể khách quan chứng
kiến toàn bộ cảnh hai anh em Mên và Mon từ khi tỉnh giấc đến khi học chứng
kiến cảnh huy hoàng bay lên của bầy chim chìa vôi trong cảnh bình minh đầy
ngoạn mục. Ngôi kể này có khi cùng với người kể chuyện dẫn dắt truyện kể:
“Khoảng hai giờ sáng Mon tỉnh giấc. Nó xoay mình sang phía anh nó, thì thào
gọi: - Thằng Mên hỏi lại, giọng nó ráo hoảnh như đã thức dậy từ lâu lắm rồi”; có
khi là lời nhân vật: “- Anh Mên ơi, anh Mên!; - Gì đấy? Mày không ngủ à?” cho
thấy sự linh hoạt và sáng tạo trong ngôi kể của nhà văn để giúp hai nhân vật
Mon và Mên từ người đọc trở nên thú vị, chân thực và đặc biệt hơn. Cùng với
đó là sự kết hợp ngôn ngữ gần gũi giúp cho các nhân vật được thể hiện một
cách chân thực, sinh động, tự nhiên không chỉ góp phần thể hiện chủ đề ý nghĩa
nhân văn câu chuyện mà còn thể hiện tài năng, sự tinh tế trong việc nắm bắt
“thế giới ngôn ngữ trẻ thơ” giàu cảm xúc, trong trẻ, hồn nhiên và nhạy cảm
trước những gì xảy ra trong cuộc sống.
Có thể nói với truyện ngắn Bầy chim chìa vôi, Nguyễn Quang Thiều đã gửi
gắm biết bao thế hệ bạn đọc cảm nhận được những điều ý nghĩa tốt đẹp nhân
văn từ những câu chuyện nhỏ của hai đứa trẻ đối với bầy chim chìa vôi bằng
chính sự ngây thơ, tình cảm trong sáng, hồn nhiên, tấm lòng nhân hậu, yêu
thương. Truyện bồi dưỡng lòng trắc ẩn, tình yêu loài vật, yêu thiên nhiên xung
quanh chúng ta. Từ câu chuyện mỗi chúng ta cảm nhận, hiểu sâu sắc thêm
thông điệp về cuộc sống: Con người cần sống hòa hợp và gắn bó hơn với thiên
nhiên, với muôn loài. Đó là một phần của cuộc sống.
ĐỀ SỐ 2: Phân tích truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa
DÀN Ý CHI TIẾT
MỞ BÀI:
- Giới thiệu khái quát về nhà văn Thạch Lam, cảm hứng sáng tác:
+ Cây bút nổi tiếng của văn học Việt Nam trước năm 1945; nhà văn thành
công với truyện ngắn với cách viết văn bình dị, giàu cảm xúc và đậm chất thơ.
+ Các tác phẩm ẩn chứa niềm tin yêu, trân trọng đối với thiên nhiên và con
người
- Nêu ý kiến khái quát về tác phẩm:
+ Là một tác phẩm hay sáng tác năm 1937, Gió lạnh đầu mùa ca ngợi tình yêu
thương chia sẻ ấm áp, trong trẻo của con người với con người, đặc biệt tình
yêu thương vô tư của trẻ thơ.
THÂN BÀI:
1. Nêu nội dung chính của tác phẩm.
- Theo dòng cảm xúc của nhân vật Sơn, nhà văn đưa người đọc vào thế
giới cảm xúc trong trẻo của tuổi thơ. Cảnh mùa đông giá lạnh đến, hai chị Lan
và Sơn được mặc quần áo đẹp đẽ và ấm áp
- Kể việc hai chị em Sơn về lấy áo cho Hiên - cô bé nghèo xóm chợ
đang rét vì không co áo ấm mặc.
- Chuyện kết thúc với cuộc gặp giữa mẹ Hiên sang nhà Sơn trả lại áo
bông. Biết hoàn cảnh của gia đình Hiên, mẹ Sơn cho mẹ Hiên mượn tiền may
áo mới cho con.
2. Nêu chủ đề của tác phẩm.
- Truyện Gió lạnh đầu mùa cho chúng ta nhìn thấy được sự khác biệt rõ rệt
giữa những đứa trẻ trong gia đình nghèo khó và giàu có của những đứa trẻ nơi
phố chợ nghèo trong cơn gió lạnh đầu mùa và tình yêu thương giữa người với
người vẫn còn lan tỏa.
- Ttruyện cũng ca ngợi tấm lòng yêu thương và nhân ái của con người đối với
nhau.
3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ
thuật của tác phẩm
a. Xây dựng nhân vật
- Nhân vật xây dựng chủ yếu qua từng cảm xúc, tâm trạng gắn liền chuyển
biến của thiên nhiên, cảnh vật, sự việc…
* Nhân vật Sơn
- Tập trung khắc hoạ và gây được ấn tượng mạnh trong lòng người đọc khi
xuất hiện trong ngôi nhà ấm cúng của mình khi gió mùa về.
- Sơn cảm nhận rất rõ cái lạnh đầu mùa khi được mẹ, chị Lan chăm sóc ân cần,
mẹ nhắc chị Lan lấy áo cho em áo ấm. Gia đình Sơn thuộc tầng lớp trung lưu,
nên Sơn được ăn mặc rất sạch đẹp, em mặc áo dạ đỏ lẫn áo vệ sinh, áo vải
thâm bân ngoài. Sơn cảm nhận được sự biến đổi của thiên nhiên, cảnh vật khi
bước vào mùa đông.
- Cậu bé còn cảm nhận được không khí ấm áp, tình yêu thương của mẹ, của vú
già. Sơn là cậu bé ngoan ngoãn, sống giàu tình cảm, tinh tế biết quan sát và
cảm nhận được tâm trạng cảm xúc của người thân.
- Sơn là một cậu bé tốt bụng và giàu tình cảm khác với những người anh họ
của mình, Sơn luôn thân thiện và chơi đùa với những đứa trẻ nghèo trong
xóm. Tình huống ghi điểm nhất trong tính cách của Sơn là khi nhìn thấy Hiền
- cô bé hàng xóm không có áo ấm để mặc. Sơn lặng lẽ đứng chờ, trong lòng
cảm thấy “ấm áp vui sướng”. Vẻ đẹp tâm hồn của Sơn lại được thể hiện ở nét
đẹp đáng yêu, sự ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng ở cuối truyện.
- Với ngôn từ giản dị và giọng nói nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, nhân vật Sơn
được thể hiện một cách sinh động và chân thực. Thông qua nhân vật Sơn, nhà
văn đã gửi gắm những bài học quý giá về tình người trong cuộc sống.
* Các nhân vật khác (Lan, Hiên…)
- Ngoài việc khắc hoạ đậm nét nhân vật chính Sơn, Thạch Lam cũng dành tình
cảm, miêu tả kết hợp kể chỉ một vài chi tiết chấm phá cũng đủ hiện lên hình
ảnh các nhân vật khác.
- Nhân vật Lan - chị gái của Sơn là một cô bé đảm đang, tháo vát. Lan
dậy từ sớm cùng mẹ ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống, giúp mẹ lấy
thúng áo ra cho em mặc…
- Cô bé còn là một người giàu tình yêu thương đối với em trai, cô bé hết
mực yêu thương: là người gọi em dậy mỗi buổi sớm, an ủi động viên em...,
với trẻ con trong xóm và đặc biệt với cô bé Hiên hỏi thăm rất chân thành.
- Khi nghe em trai đề nghị đem chiếc áo bông cho Hiên, Lan cũng đồng ý
và còn hăm hở chạy về nhà lấy. Cùng với mẹ của mình, nhân vật Lan đã
mang đến cho chúng ta những trái tim ấm áp của tình thương của tình
người, bài học về tình yêu thương.
- Người đọc ấn tượng sâu sắc về cô bé Hiên, sinh ra trong một gia đình
nghèo khó. Mẹ Hiên làm nghề mò cua bắt ốc kiếm ăn qua ngày nên không
có tiền may áo ấm cho con. Cô bé chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả
lưng và tay.
- Cô bé không cô đơn, mà nhận được tình yêu thương của chị em Sơn.
Lan và Sơn đã quyết định đem chiếc áo của em Duyên cho Hiên. Chiếc áo
mà Hiên nhận được gửi gắm tấm lòng nhân ái, thảo thơm. Hiên hiện lên
là một cô bé đáng thương, nhưng em không bất hạnh. Vì Hiên luôn có
tình yêu thương của người mẹ tảo tần, và cả tình yêu thương của chị em
Sơn.
b. Giàu chất thơ, chất trữ tình
- Tác phẩm giầu chất trữ tình, với ngôn ngữ nhẹ nhàng, giản dị, chân thực,
thiên truyện ngắn giàu chất trữ tình, bàng bạc chất thơ. Chất trữ tình là một
trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn và góp vào thành công của truyện.
- Chất thơ, chất trữ tình trong dưới nét bút của Thạch Lam, thiên nhiên bên
ngoài là cái cớ để khơi gợi thế giới nội tâm lung linh sâu lắng, thế giới của
những cảm xúc vô bờ mà cứ nhè nhẹ thắm tình người.
- Trong tác phẩm hà văn đã miêu tả tinh tế và chính xác sự chuyển đổi mùa từ
cuối thu sang đầu đông bằng những từ ngữ cô đọng, vừa tượng thanh, vừa
tượng hình vừa khơi gợi cảm xúc: “cái nắng tháng mười làm nứt nẻ đồng
ruộng và làm giòn khô những chiếc lá rơi …”, “ngoài sân đất khô trắng… cơn
gió vi vu làm bốc lên những làn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo…”
- Chất trữ tình còn tạo nên lời văn mượt mà, trau chuốt đầy chất thơ, giàu chất
họa, âm thanh nhẹ nhàng, êm ái mà đầy suy tư, một ngôn ngữ như được chắp
cánh thơ, nâng người đọc đến những cảm xúc thẩm mĩ sâu sắc.
- Thạch Lam đã khéo quan sát tinh tường, chọn những chi tiết hết sức tiêu biểu
từ màu sắc, âm thanh đến sự chuyển động của cảnh chuyển mùa trong cái lạnh
đầu đông để hoài niệm ở đầu cũng như khung cảnh câu chuyện…
c. Thủ pháp đối lập gắn với hình ảnh biểu tượng Gió lạnh đầu mùa
- Đối lập là một thủ pháp nghệ thuật hay được tác giả vận dụng trong đó có
nhiều sáng tác của Thạch Lam.
- Trong Gió lạnh đầu mùa tác giả đã vẽ nên trong tác phẩm hai mảnh đời đối
lập gắn với hình ảnh biểu tượng “Gió lạnh đầu mùa”:
+ Đó là Sơn - một đứa trẻ may mắn khi được thức dậy trong cái chăn ấm áp,
được sưởi tay trong hỏa lò, được mẹ và chị chăm sóc kỹ lưỡng, khi lo cho
từng “chén chè nóng ấp vào mặt, vào má cho ấm”. Sơn có đến những hai chiếc
áo rét cực dày, “một cái áo vệ sinh màu nâu sẫm và một cái áo dạ khâu chỉ
đỏ”, tuy đã mặc từ năm ngoái, năm kia nhưng khi cầm chúng giơ lên Sơn vẫn
“thấy mát lạnh cả tay”.
+ Là những đứa trẻ xóm chợ trong đó có cô bé Hiên vì nghèo khó phải vẫn
phải đem da thịt trần trụi trong “bộ quần áo nâu bạc, đã rách vá nhiều
chỗ” căng sức chống chọi với giá rét. Những đứa trẻ xóm chợ rất đáng thương
với đôi môi chúng nó 'tím lại'', chỗ áo quần rách 'da thịt thâm đi'.
- Gió lạnh thổi đến, chúng nó lại 'run lên', 'hai hàm răng đập vào nhau'.
Những chiếc áo rét năm ngoái, năm kia tưởng chừng như xưa cũ với Sơn nay
lại là một niềm mơ ước, một món hàng xa xỉ với lũ trẻ. Chúng bỏ dở những trò
chơi con trẻ, chỉ để được ngắm, được sờ và được ao ước, mộng tưởng về
những chiếc áo của Sơn.
- Người đọc có thể thấy hoàn cảnh của những đứa trẻ rất khác biệt khi gió mùa
về. Trong khi chị em Sơn sống trong gia đình sung túc, được mặc ấm, mặc đẹp
thì bọn trẻ con nhà nghèo ăn mặc rách rưới, thiếu thốn đáng thương.
- Dù trái ngược đối lập về hoàn cảnh sống như một phần của xã hội trước cách
mạng tháng 8 năm 1945 được nhà văn sáng tác truyện vào năm 1937 nhưng đó
chỉ là bề ngoài hình thức thể hiện của tác phẩm còn sâu thẳm bên trong là chủ
đề còn mãi với thời gian với những đứa sống giàu tình thương, tốt bụng, trong
sáng, đáng yêu, giàu lòng trắc ẩn.
KẾT BÀI:
- Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm:
+ Thời gian dù có trôi qua, khung cảnh câu chuyện có phai mờ nhưng tình
người, nghĩa cử ấm ấp của chị em Sơn mãi mãi là việc tử tế được tâm hồn giàu
tình thương của Thạch Lam dành trọn không chỉ trong truyện ngắn này lan toả
trong tim biết bao người.
+ Đó là tình nhân đạo thấm đẫm làm nên chất thơ trong truyện ngắn Thạch
Lam.
- Liên hệ:
+ Nhà văn như thì thầm với chúng ta hãy bồi dưỡng và phát huy lòng nhân ái,
hãy sống bằng tình người bao dung.
+ Lan toả tình người và tình đời để tình yêu thương, việc tử tế bước ra ngoài
trang sách thật nhiều, tô đẹp thêm cho cuộc sống….
BÀI VIẾT THAM KHẢO KHỚP DÀN Ý CHI TIẾT
Là một cây bút nổi tiếng của văn học Việt Nam trước năm 1945, nhà văn
Thạch Lam thành công với thể loại truyện ngắn với phong cách viết văn bình dị,
giàu cảm xúc và đậm chất thơ. Các tác phẩm của ông ẩn chứa niềm tin yêu, trân
trọng đối với thiên nhiên và con người. Sáng tác năm 1937, truyện “Gió lạnh
đầu mùa” toả mãi trong lòng người sự ấm áp của tình người và tình đời. Với cốt
truyện đơn giản nói về chuyện cho áo, trả áo rét giữa ba đứa trẻ và hai người mẹ
nơi phố huyện nghèo, truyện ca ngợi tình yêu thương chia sẻ ấm áp, trong trẻo
của con người với con người, đặc biệt tình yêu thương vô tư của trẻ thơ.
Nhà văn đưa người đọc vào thế giới cảm xúc trong trẻo của tuổi thơ. Mùa
đông giá lạnh đã đến, hai chị Lan và Sơn được mặc quần áo đẹp đẽ và ấm áp.
Hai chị em Sơn ra xóm chợ chơi và thấy những người bạn nghèo mặc những bộ
quần áo bạc màu, nhiều chỗ vá. Đặc biệt là em Hiên chỉ có mang áo rách tả tơi,
co ro chịu rét. Chị Lan hăm hở về lấy áo cho Hiên, Sơn cảm thấy trong ḷòng ấm
áp, vui vui. Chuyện cho áo đến tai người thân, lo sợ bị mẹ mắng, hai chị em đi
tìm Hiên đòi áo. Mẹ Hiên sang nhà Sơn trả lại áo bông. Biết hoàn cảnh của gia
đình Hiên, mẹ Sơn cho mẹ Hiên mượn tiền may áo mới cho con.
Truyện Gió lạnh đầu mùa cho chúng ta nhìn thấy được sự khác biệt rõ rệt
giữa những đứa trẻ trong gia đình nghèo khó và giàu có của những đứa trẻ nơi
phố chợ nghèo trong cơn gió lạnh đầu mùa và tình yêu thương giữa người với
người vẫn còn lan tỏa. Đồng thời truyện cũng ca ngợi tấm lòng yêu thương và
nhân ái của con người đối với nhau trong cuộc sống.
Trong truyện Giáo lạnh đầu mùa, nhân vật được Thạch Lam xây dựng chủ
yếu qua từng cảm xúc, tâm trạng gắn liền chuyển biến của thiên nhiên, cảnh vật,
sự việc. Nhân vật không được kể nhiều về hình dáng, ngoại hình mà nhà văn tập
trung miêu tả khai thác diễn biến tâm lí của nhân vật giúp người đọc thấy được
vẻ đẹp trong tính cách tâm hồn.
Nhân vật được nhà văn tập trung khắc hoạ và gây được ấn tượng mạnh
trong lòng người đọc đó là nhân vật Sơn. Nhân vật này xuất hiện trong ngôi nhà
ấm cúng của mình khi gió mùa về. Trời đang ấm, chỉ qua một đêm mưa rào,
bỗng gió rét thổi về. Ai cũng tưởng như đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn
“tung chăn tỉnh dậy”, em nhìn ra ngoài sân, nghe “gió vi vu…”, âm thanh xào
xạc của những chiếc lá khô. Những khóm lan “lá rung động và hình như sắt lại
vì rét”… Sơn cảm nhận rất rõ cái lạnh đầu mùa, được mẹ, chị Lan chăm sóc ân
cần, mẹ nhắc chị Lan lấy áo cho em áo ấm. Gia đình Sơn thuộc tầng lớp trung
lưu, nên được ăn mặc rất sạch đẹp, em mặc áo dạ đỏ lẫn áo vệ sinh, áo vải thâm
bân ngoài. Sơn cảm nhận được sự biến đổi của thiên nhiên, cảnh vật khi bước
vào mùa đông. Cậu bé còn cảm nhận được không khí ấm áp, tình yêu thương
của mẹ, của vú già. Khi vú nhắc đến chuyện chiếc áo bông, mẹ Sơn nhắc đến
em Duyên, người em, đã mất nhớ em, Sơn cảm động và thương em quá. Sơn
thấy mẹ rơm rớm nước mắt. Có thể nói, ngay đầu tác phẩm, người đọc đã cảm
nhận được không khí ấm áp của gia đình Sơn, cảm nhận được Sơn là cậu bé
ngoan ngoãn, sống giàu tình cảm, tinh tế biết quan sát và cảm nhận được tâm
trạng cảm xúc của người thân.
Tuy nhiên, Sơn không hề tỏ ra kiêu ngạo, xa cách mà vẫn là một cậu bé
tốt bụng và giàu tình cảm. Khác với những người anh họ của mình, Sơn luôn
thân thiện và chơi đùa với lũ trẻ hàng xóm Túc Cúc, Xuân, Tí, Túc - những đứa
trẻ nghèo trong xóm. Tình huống ghi điểm nhất trong tính cách của Sơn là khi
nhìn thấy Hiền - cô bé hàng xóm không có áo ấm để mặc. Thấy Hiền đứng “co
ro” gần quán nước, trong gió lạnh chỉ mặc độc chiếc áo “tả tơi”, “hở cả lưng, hở
tay”, Sơn chợt nhớ mẹ Hiền nghèo lắm, nhớ Duyên ngày trước. Này trong vườn.
Một ý hay nảy ra trong đầu Sơn, đó là đem chiếc ...
 





