KỸ NĂNG THAM GIA GIAO THÔNG AN TOÀN
Bài 9 Trung Quốc thời cổ đại đến thế kỉ VII

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Tài Thiều
Ngày gửi: 22h:17' 24-01-2022
Dung lượng: 36.6 MB
Số lượt tải: 399
Nguồn:
Người gửi: Đặng Tài Thiều
Ngày gửi: 22h:17' 24-01-2022
Dung lượng: 36.6 MB
Số lượt tải: 399
Số lượt thích:
0 người
CHÀO MỪNG CÁC EM HỌC SINH 6
MÔN LỊCH SỬ ĐỊA LÍ
Phân môn: Lịch sử
Giáo viên: Đinh Thị Ngọc Lan
TRƯỜNG THCS THƯỢNG MỖ
Những hình ảnh dưới đây khiến em nhớ đến quốc gia nào? Em được học những gì về quốc gia đó?
TIẾT 15. BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII (t2)
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Dựa vào SGK và sự hiểu biết của bản thân, em hãy hoàn thành Phiếu học tập sau:
Thời gian: 5 phút
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
Kinh Thi là một bộ tổng tập thơ ca vô danh của Trung Quốc, một trong năm bộ sách kinh điển của Nho giáo. Ngũ Kinh là năm quyển kinh điển trong văn học Trung Hoa dùng làm nền tảng trong Nho giáo. Theo truyền thuyết, năm quyển này đều được Khổng Tử soạn thảo hay hiệu đính. Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư. Năm quyển Ngũ Kinh gồm có: 1. Kinh Thi 2. Kinh Thư 3. Kinh Lễ 4. Kinh Dịch 5. Kinh Xuân Thu. Ngoài ra còn có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính nhưng về sau bị Tần Thủy Hoàng đốt mất, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký. Như vậy Lục kinh chỉ còn có Ngũ kinh Các bài thơ trong Kinh Thi được sáng tác trong khoảng thời gian 500 năm, từ đầu thời Tây Chu (tk 11–771 TCN) đến giữa thời Xuân Thu (770–476 TCN), gồm 311 bài thơ. Kinh Thi chia làm ba bộ phận lớn là Phong, Nhã và Tụng. Nguồn gốc các bài thơ trong Kinh Thi khá phức tạp, gồm cả ca dao, dân ca và nhã nhạc triều đình, với các tác giả thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đương thời. Từ ca dao, dân ca được ghi chép lại thành văn rồi thành kinh điển, Kinh Thi đã trải qua quá trình sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn công phu.
Sở Từ là tuyển tập thi ca lãng mạn đầu tiên trong lịch sử văn học Trung Quốc, tương truyền là một thể thơ mới do quan đại phu nước Sở Khuất Nguyên sáng tác. Danh xưng Sở Từ đã tồn tại từ thời đầu nhà Tây Hán, được Lưu Hướng biên tập và được Vương Dật đời Đông Hán làm chương cú. Tuyển tập ban đầu của Khuất Nguyên, Tống Ngọc thời Chiến Quốc và Hoài Nam Tiểu Sơn, Đông Phương Sóc, Vương Bao, Lưu Hướng thời nhà Hán có tổng cộng 16 thiên từ phú. Về sau Vương Dật bổ sung thêm "Cửu tư" (九思) của mình tạo thành tổng cộng 17 thiên. Toàn bộ tác phẩm chủ yếu dựa trên những sáng tác của Khuất Nguyên, trong khi các thiên còn lại cũng chủ yếu kế thừa hình thức thơ phú của ông. Do vận dụng kiểu dáng văn học, âm ngữ và vật sản phong thổ nước Sở, lại mang đậm màu sắc, hương vị địa phương nên Sở từ có ảnh hưởng sâu sắc tới nền thi ca của hậu thế.
Sở Từ có một ý nghĩa đặc biệt đối với toàn bộ hệ thống văn hóa Trung Quốc, đặc biệt trên phương diện văn học, vì nó được xem là đã khai sáng nên thể loại thi ca lãng mạn Trung Quốc. Cũng bởi vì thế mà người đời sau xưng tụng thể loại thơ này là "Sở Từ thể" hay "Tao thể". Sở Từ cùng với ngành nghiên cứu về nó ngày nay được gọi là "Sở Từ học", xuất hiện từ thời nhà Hán và nở rộ dưới thời nhà Tống; đến thời hiện đại, nó đã trở thành một trường phái văn học cổ điển nổi bật của Trung Quốc. Ngay từ thời Thịnh Đường, Sở Từ đã được truyền bá tới những quốc gia và vùng đất thuộc vùng văn hóa chữ Hán, bao gồm Nhật Bản cũng như Việt Nam và Triều Tiên/Hàn Quốc ngày nay. Đến thế kỷ thứ 16, Sở Từ lần đầu tiên tiếp cận người châu Âu. Sang đến thế kỷ 19, tác phẩm này đã thu hút được sự chú ý rộng rãi tại các quốc gia Âu Mỹ khi mà số lượng lớn các bản dịch cũng như hàng loạt các công trình nghiên cứu bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau đồng loạt xuất hiện. Trong giới Hán học quốc tế, Sở Từ luôn là một trong những điểm nóng của nghiên cứu.
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
Nho giáo còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng (Nhơn đạo) là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa, trong đó con người biết ứng xử theo lẽ phải và đạo đức[1], đất nước thái bình, thịnh vượng.
Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước Đông Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh.
Đạo giáo (Đạo nghĩa là con đường, đường đi, giáo là sự dạy dỗ) hay gọi là Tiên Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo của Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của đất nước này. Nguồn gốc lịch sử của Đạo giáo được xác nhận nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện. Các tên gọi khác là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia, Tiên Giáo.
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá Trung Quốc. Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địa lý.
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
Tư Mã Thiên (k. 145 TCN hoặc k. 135 TCN – k. 86 TCN), biểu tự Tử Trường (子長), là một nhà sử học Trung Quốc sống vào đầu thời nhà Hán (206 TCN – 220). Ông được coi là cha đẻ của ngành sử học Trung Quốc với bộ Sử ký, một bộ thông sử Trung Quốc viết theo phong cách Thể kỷ truyện. Sử ký viết về hơn hai nghìn năm lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ sự trỗi dậy của Hoàng Đế huyền thoại và sự hình thành chính thể đầu tiên ở Trung Quốc cho đến thời của Tư Mã Thiên, thời Hán Vũ Đế trị vì.[2] Không chỉ là bộ thông sử đầu tiên được biết đến ở Trung Quốc cổ đại, Sử ký còn đóng vai trò như một khuôn mẫu cho việc ghi chép chính sử của các triều đại Trung Quốc tiếp theo và trên toàn vùng văn hóa chữ Hán (gồm cả các quốc gia Hàn Quốc, Việt Nam, Nhật Bản) mãi đến tận thế kỉ 20.
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
Vạn Lý Trường Thành gọi tắt là Trường Thành, là tên gọi chung cho nhiều thành lũy kéo dài hàng ngàn cây số từ Đông sang Tây, được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ 5 TCN cho tới thế kỷ 16, để bảo vệ Trung Hoa khỏi những cuộc tấn công của người Hung Nô, Mông Cổ, Đột Quyết, và những bộ tộc du mục khác đến từ những vùng hiện thuộc Mông Cổ và Mãn Châu. Một số đoạn tường thành được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 TCN, sau đó được Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng ra lệnh nối lại và xây thêm từ năm 220 TCN và 200 TCN và hiện chỉ còn sót lại ít di tích. Vạn Lý Trường Thành nổi tiếng được tham quan nhiều hiện nay được xây dưới thời nhà Minh (1368-1644).
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
CỨU LẤY CÁ VOI
Whale Rescue Story
ĐÊM QUA, MỘT CƠN BÃO LỚN ĐÃ XẢY RA NƠI VÙNG BIỂN CỦA CHÚ CÁ VOI
CƠN BÃO ĐÃ CUỐN CHÚ CÁ VOI ĐI XA VÀ SÁNG DẬY CHÚ BỊ MẮC CẠN TRÊN BÃI BIỂN
MỘT ĐÁM MÂY MƯA HỨA SẼ GIÚP CHÚ NẾU CÓ NGƯỜI GIẢI ĐƯỢC CÂU ĐỐ CỦA MÂY MƯA
CÁC EM TRẢ LỜI THẬT ĐÚNG ĐỂ GIÚP CHÚ CÁ VOI TỘI NGHIỆP VỀ NHÀ NHÉ !
Subtitle : turn on CC
Luật chơi
Có 5 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng thì mưa sẽ đổ xuống và nước biển dâng lên, hoàn thành xong 5 câu sẽ cứu được cá voi.
Chú ý vì đây là trò chơi nhân văn nên nếu em không trả lời được thì hãy mời bạn của mình trợ giúp đến khi các em có đáp án đúng để cùng nhau giải cứu cá voi.
CƠN MƯA SỐ 1 …
CƠN MƯA SỐ 2 …
CƠN MƯA SỐ 3 …
CƠN MƯA SỐ 4 …
Quan hệ sản xuất chính được thiết lập dưới thời nhà Tần là
CƠN MƯA CUỐI …
CẢM ƠN CÁC BẠN THẬT NHIỀU.
CÁC BẠN GIỎI QUÁ ĐI
Hãy đóng vai hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu cho đoàn khách nước ngoài ngược dòng thời gian về tham quan những thành tựu văn hóa tiêu biểu của Trung Quốc cổ đại.
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP Ở NHÀ
1. Học bài.
2. Chuẩn bị bài mới: ôn lại các bài đã học để tiết sau ôn tập, chuẩn bị cho kì thi giữa kì.
Chúc các em học tập tốt
MÔN LỊCH SỬ ĐỊA LÍ
Phân môn: Lịch sử
Giáo viên: Đinh Thị Ngọc Lan
TRƯỜNG THCS THƯỢNG MỖ
Những hình ảnh dưới đây khiến em nhớ đến quốc gia nào? Em được học những gì về quốc gia đó?
TIẾT 15. BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII (t2)
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Dựa vào SGK và sự hiểu biết của bản thân, em hãy hoàn thành Phiếu học tập sau:
Thời gian: 5 phút
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
Kinh Thi là một bộ tổng tập thơ ca vô danh của Trung Quốc, một trong năm bộ sách kinh điển của Nho giáo. Ngũ Kinh là năm quyển kinh điển trong văn học Trung Hoa dùng làm nền tảng trong Nho giáo. Theo truyền thuyết, năm quyển này đều được Khổng Tử soạn thảo hay hiệu đính. Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư. Năm quyển Ngũ Kinh gồm có: 1. Kinh Thi 2. Kinh Thư 3. Kinh Lễ 4. Kinh Dịch 5. Kinh Xuân Thu. Ngoài ra còn có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính nhưng về sau bị Tần Thủy Hoàng đốt mất, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký. Như vậy Lục kinh chỉ còn có Ngũ kinh Các bài thơ trong Kinh Thi được sáng tác trong khoảng thời gian 500 năm, từ đầu thời Tây Chu (tk 11–771 TCN) đến giữa thời Xuân Thu (770–476 TCN), gồm 311 bài thơ. Kinh Thi chia làm ba bộ phận lớn là Phong, Nhã và Tụng. Nguồn gốc các bài thơ trong Kinh Thi khá phức tạp, gồm cả ca dao, dân ca và nhã nhạc triều đình, với các tác giả thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đương thời. Từ ca dao, dân ca được ghi chép lại thành văn rồi thành kinh điển, Kinh Thi đã trải qua quá trình sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn công phu.
Sở Từ là tuyển tập thi ca lãng mạn đầu tiên trong lịch sử văn học Trung Quốc, tương truyền là một thể thơ mới do quan đại phu nước Sở Khuất Nguyên sáng tác. Danh xưng Sở Từ đã tồn tại từ thời đầu nhà Tây Hán, được Lưu Hướng biên tập và được Vương Dật đời Đông Hán làm chương cú. Tuyển tập ban đầu của Khuất Nguyên, Tống Ngọc thời Chiến Quốc và Hoài Nam Tiểu Sơn, Đông Phương Sóc, Vương Bao, Lưu Hướng thời nhà Hán có tổng cộng 16 thiên từ phú. Về sau Vương Dật bổ sung thêm "Cửu tư" (九思) của mình tạo thành tổng cộng 17 thiên. Toàn bộ tác phẩm chủ yếu dựa trên những sáng tác của Khuất Nguyên, trong khi các thiên còn lại cũng chủ yếu kế thừa hình thức thơ phú của ông. Do vận dụng kiểu dáng văn học, âm ngữ và vật sản phong thổ nước Sở, lại mang đậm màu sắc, hương vị địa phương nên Sở từ có ảnh hưởng sâu sắc tới nền thi ca của hậu thế.
Sở Từ có một ý nghĩa đặc biệt đối với toàn bộ hệ thống văn hóa Trung Quốc, đặc biệt trên phương diện văn học, vì nó được xem là đã khai sáng nên thể loại thi ca lãng mạn Trung Quốc. Cũng bởi vì thế mà người đời sau xưng tụng thể loại thơ này là "Sở Từ thể" hay "Tao thể". Sở Từ cùng với ngành nghiên cứu về nó ngày nay được gọi là "Sở Từ học", xuất hiện từ thời nhà Hán và nở rộ dưới thời nhà Tống; đến thời hiện đại, nó đã trở thành một trường phái văn học cổ điển nổi bật của Trung Quốc. Ngay từ thời Thịnh Đường, Sở Từ đã được truyền bá tới những quốc gia và vùng đất thuộc vùng văn hóa chữ Hán, bao gồm Nhật Bản cũng như Việt Nam và Triều Tiên/Hàn Quốc ngày nay. Đến thế kỷ thứ 16, Sở Từ lần đầu tiên tiếp cận người châu Âu. Sang đến thế kỷ 19, tác phẩm này đã thu hút được sự chú ý rộng rãi tại các quốc gia Âu Mỹ khi mà số lượng lớn các bản dịch cũng như hàng loạt các công trình nghiên cứu bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau đồng loạt xuất hiện. Trong giới Hán học quốc tế, Sở Từ luôn là một trong những điểm nóng của nghiên cứu.
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
Nho giáo còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng (Nhơn đạo) là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội hài hòa, trong đó con người biết ứng xử theo lẽ phải và đạo đức[1], đất nước thái bình, thịnh vượng.
Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước Đông Á là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Việt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho, Nho sĩ hay Nho sinh.
Đạo giáo (Đạo nghĩa là con đường, đường đi, giáo là sự dạy dỗ) hay gọi là Tiên Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo của Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của đất nước này. Nguồn gốc lịch sử của Đạo giáo được xác nhận nằm ở thế kỉ thứ 4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện. Các tên gọi khác là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia, Tiên Giáo.
Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá Trung Quốc. Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địa lý.
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
Tư Mã Thiên (k. 145 TCN hoặc k. 135 TCN – k. 86 TCN), biểu tự Tử Trường (子長), là một nhà sử học Trung Quốc sống vào đầu thời nhà Hán (206 TCN – 220). Ông được coi là cha đẻ của ngành sử học Trung Quốc với bộ Sử ký, một bộ thông sử Trung Quốc viết theo phong cách Thể kỷ truyện. Sử ký viết về hơn hai nghìn năm lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ sự trỗi dậy của Hoàng Đế huyền thoại và sự hình thành chính thể đầu tiên ở Trung Quốc cho đến thời của Tư Mã Thiên, thời Hán Vũ Đế trị vì.[2] Không chỉ là bộ thông sử đầu tiên được biết đến ở Trung Quốc cổ đại, Sử ký còn đóng vai trò như một khuôn mẫu cho việc ghi chép chính sử của các triều đại Trung Quốc tiếp theo và trên toàn vùng văn hóa chữ Hán (gồm cả các quốc gia Hàn Quốc, Việt Nam, Nhật Bản) mãi đến tận thế kỉ 20.
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
Phiếu học tập
Vạn Lý Trường Thành gọi tắt là Trường Thành, là tên gọi chung cho nhiều thành lũy kéo dài hàng ngàn cây số từ Đông sang Tây, được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ 5 TCN cho tới thế kỷ 16, để bảo vệ Trung Hoa khỏi những cuộc tấn công của người Hung Nô, Mông Cổ, Đột Quyết, và những bộ tộc du mục khác đến từ những vùng hiện thuộc Mông Cổ và Mãn Châu. Một số đoạn tường thành được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 TCN, sau đó được Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng ra lệnh nối lại và xây thêm từ năm 220 TCN và 200 TCN và hiện chỉ còn sót lại ít di tích. Vạn Lý Trường Thành nổi tiếng được tham quan nhiều hiện nay được xây dưới thời nhà Minh (1368-1644).
BÀI 9: TRUNG QUỐC TỪ THỜI CỔ ĐẠI
ĐẾN THẾ KỈ VII
4. Thành tựu tiêu biểu của văn minh Trung Quốc cổ đại
CỨU LẤY CÁ VOI
Whale Rescue Story
ĐÊM QUA, MỘT CƠN BÃO LỚN ĐÃ XẢY RA NƠI VÙNG BIỂN CỦA CHÚ CÁ VOI
CƠN BÃO ĐÃ CUỐN CHÚ CÁ VOI ĐI XA VÀ SÁNG DẬY CHÚ BỊ MẮC CẠN TRÊN BÃI BIỂN
MỘT ĐÁM MÂY MƯA HỨA SẼ GIÚP CHÚ NẾU CÓ NGƯỜI GIẢI ĐƯỢC CÂU ĐỐ CỦA MÂY MƯA
CÁC EM TRẢ LỜI THẬT ĐÚNG ĐỂ GIÚP CHÚ CÁ VOI TỘI NGHIỆP VỀ NHÀ NHÉ !
Subtitle : turn on CC
Luật chơi
Có 5 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng thì mưa sẽ đổ xuống và nước biển dâng lên, hoàn thành xong 5 câu sẽ cứu được cá voi.
Chú ý vì đây là trò chơi nhân văn nên nếu em không trả lời được thì hãy mời bạn của mình trợ giúp đến khi các em có đáp án đúng để cùng nhau giải cứu cá voi.
CƠN MƯA SỐ 1 …
CƠN MƯA SỐ 2 …
CƠN MƯA SỐ 3 …
CƠN MƯA SỐ 4 …
Quan hệ sản xuất chính được thiết lập dưới thời nhà Tần là
CƠN MƯA CUỐI …
CẢM ƠN CÁC BẠN THẬT NHIỀU.
CÁC BẠN GIỎI QUÁ ĐI
Hãy đóng vai hướng dẫn viên du lịch, giới thiệu cho đoàn khách nước ngoài ngược dòng thời gian về tham quan những thành tựu văn hóa tiêu biểu của Trung Quốc cổ đại.
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP Ở NHÀ
1. Học bài.
2. Chuẩn bị bài mới: ôn lại các bài đã học để tiết sau ôn tập, chuẩn bị cho kì thi giữa kì.
Chúc các em học tập tốt
 





